| Đây là một mục tiêu đáng để phấn đấu nhưng lại rất khó nắm bắt. 28-12-2005, một số báo của tập san Wall street đă công bố một bài báo với tiêu đề 'Nó là thương hiệu mục tiêu, thật ngu ngốc' đồng tác giả bởi Clayton Christensen của trường kinh doanh Harvard, với trực giác của chủ tịch Scott Cook và Taddy Hall, giám đốc kế hoạch của tổ chức nghiên cứu quảng cáo. Bài báo này liên quan đến vấn đề gây nhiều tranh căi trong giới kinh doanh đó là nhà kinh doanh sẽ tiêu thụ được nhiều hàng hơn nếu họ chú ư đến nhăn hàng hoá 'từ việc hiểu rơ nghề nghiệp của khách hàng là ǵ, họ cần ǵ để tạo ra những sản phẩm có thể đáp ứng được những nhu cầu đặc trưng của họ'. Nhưng tác giả c̣n nhận định thêm: 'Khi con người chọn cho ḿnh một công việc nào đó, nhất định họ sẽ phải mua hàng hoá phù hợp với công việc của họ. Các tác giả bài báo c̣n tuyên bố rằng họ phải tăng cường tạo ra những mặt hàng gây được sự chú ư hay mặt hàng mà khách hàng có thể kết hợp với công việc mà họ đang làm. Nhưng vẫn c̣n một vấn đề: Làm thế nào chúng ta khám phá ra được khách hàng cần ǵ, muốn ǵ hoặc khao khát rằng sẽ tạo ra một nhăn hiệu có uy tín?. Theo cuốn sách của tôi, tôi viết 'khách hàng mua những mặt hàng mà họ cần, như mua mặt hàng hiệu Chevy với giá không đắt, đơn giản để đi. Họ mua hàng bởi v́ họ mong muốn có được nó như BMW bởi v́ nhờ có nó mà việc kê khai tài sản trở nên dễ dàng hơn. Họ mua những mặt hàng mà họ mong muốn có được như Porsche bởi v́ nó là biểu tượng của sự hoàn mỹ. Họ mua những mặt hàng mà họ luôn khao khát hướng tới như PT Cruiser bởi v́ nó đưa họ trở lại thời niên thiếu của ḿnh. 'Bằng sự t́m hiểu khéo léo sự đồng nhất của họ về nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn và sự khao khát đó, tất cả động cơ của –Chevy, BMW, Porsche và PTCruise đều trở thành những 'thương hiệu mục tiêu'. Thực chất chúng ta cần sáng tạo ra những thương hiệu mục tiêu. Nhưng mặt khác của vấn đề – mặt vô cùng khó khăn – là xác định rơ ràng rằng một nhăn hiệu phải đảm bảo tính duy nhất và khách hàng hoàn toàn tin tưởng khi sử dụng nó. Nền kinh tế của chúng ta ngày càng tinh vi và có sự cạnh tranh cao. Chúng ta có nhiều lựa chọn để đáp ứng được nhiều hơn những nhu cầu, mong muốn thiết yếu của khách hàng. Chúng ta đă đề cập đến vấn đề mà các nhà nghiên cứu chưa tiết lộ, khai thác những thứ có thể sẽ là một nhu cầu lớn nhằm mục đích duy tŕ sự cạnh tranh và đó cũng không chỉ nhằm khẳng định mục tiêu 'tạo dựng thương hiệu' độc nhất. Nếu như hơn 90% tổng sản phẩm không thể bán được th́ những nhà nghiên cứu thị trường phải chịu trách nhiệm. Những sản phẩm đó tiếp tục có những dấu hiệu giống nhau và không có sự phân biệt rơ ràng v́ những chiến thuật dùng để nghiên cứu thị trường thông thường là những điều đă quá cũ. Rất nhiều nhà nghiên cứu đă thất bại trong việc đưa ra những biện pháp mới và các phương thức để xác định hiệu quả những mong muốn và nhu cầu lớn nhất của khách hàng. Những yếu tố này rất quan trọng để xác định mục đích mà thương hiệu này sẽ phục vụ. Sau đây là một vài ví dụ: - Sự khác biệt giữa Home Deport và Lowe's khi nói đến mục tiêu về thương hiệu của hai hăng này là ǵ? - Stanpler và Offceepot và OffceMax th́ sao? - Về ôtô th́ sao khi so sánh nhà sản xuất Genral Motors với một sản phẩm được sản xuất bởi Ford? - Hăy suy xét đến AllState và State Farm hay CityBank và Chase. - Hăy quan sát Coke và Pepsi hay Bud với Mile. Trong khi những nhà sản xuất có thể dễ dàng đưa ra tranh luận rằng thương hiệu của họ đều có một mục đích th́ công việc mà họ làm cho khách hàng có vẻ như không thể phân biệt được. Tôi không thể chỉ ra sự khác nhau nào về những ư muốn, ước mơ, nhu cầu mà họ đ̣i hỏi như là của riêng họ và những thứ có thể phân biệt những thương hiệu thành cái gọi là 'thương hiệu có tính mục đích'. Bạn có thể không? Đơn giản là các nhà nghiên cứu sử dụng kỹ thuật giống nhau từ 20 năm trước và họ luôn cho rằng chúng vẫn c̣n thích hợp với thị trường đầy biến động và phức tạp ngày nay. Để việc nghiên cứu kỹ thuật tiếp thị trở thành một phương tiện hữu dụng trong hiện tại th́ sáng tạo và đổi mới là cần thiết hơn bao giờ hết. Thật đáng buồn khi có quá ít nhà nghiên cứu cố gắng tiến hành các cuộc thử nghiệm với do phải đối mặt với nhiều rủi ro. Thế nhưng vẫn c̣n rất nhiều mô h́nh hứa hẹn có thể t́m ra những nhu cầu và ước muốn của khách hàng và tạo điều kiện giúp đỡ các thương hiệu xác định được mục tiêu rơ ràng. Ngày nay, rất nhiều mô h́nh nghiên cứu mới được đưa vào thử nghiệm và các nghiên cứu có triển vọng đang chiếm nhiều ưu thế hơn các phương thức truyền thống. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta thật sự không biết được những thương hiệu nào có thể đáp ứng được công việc của khách hàng nếu cứ tiến hành nghiên cứu thông qua các phương thức lỗi thời này. Hăy nghĩ về một nhóm tập trung ḥan toàn trong 2 giờ. Buổi họp được xem là một trạng thái nghệ thuật. người trung gian đưa ra các câu hỏi và các văn bản để có được những phản ứng nhanh nhất. Cuối cùng, sau khi người trung gian t́m hiểu và những kỹ thuật có vẻ như không phát huy tác dụng nữa th́ những nhà sản xuất tiếp nhận thông tin trong 2 giờ (4h-6h hoặc 8h khi nhiều nhóm tiến hành). Thông thường, họ nghĩ rằng họ học được một cái ǵ đó. Hầu hết họ đều có sự hiểu biết sai lầm giống nhau về nhăn hiệu và sản phẩm của ḿnh, tính cạnh tranh đă xen vào những nghiên cứu nhóm tập trung của họ. Không hề băn khoăn ǵ khi mà rất nhiều thương hiệu trông đều giống nhau. Họ đều đang bắn một khẩu súng. Vấn đề thường nằm ở chỗ những điều mà khách hàng nói ở nhóm tập trung và những điều họ làm khác nhau – và các công tŕnh nghiên cứu vẫn chưa phát huy được tác dụng khi phải nghiên cứu thái độ và hành vi giao nhau như thế nào để tạo ra những cơ hội phát triển mục tiêu rơ ràng. Tôi có thể tranh luận rằng cho tới khi nhà quản lư tạo điều kiện về thời gian và tiền bạc để phát triển các phương thức mới để có thể hiểu được sự chia rẽ này (và những người nghiên cứu đang đ̣i hỏi những hỗ trợ về mặt quản lư để có thể làm như vậy). Chúng ta vẫn c̣n cả một chặng đường dài để có thể đạt được mục đích của thương hiệu. Bởi thế phải làm ǵ? Ồ, sẽ có sự hiểu biết sâu sắc hơn, nhiều thông tin chi tiết hơn nếu như sự phản hồi của nhóm tập trung trở lại phiên họp thứ hai hoặc thứ 3? Liệu nhiều nhu cầu, mong muốn, ước vọng có xuất hiện nếu như khách hàng có nhiều thời gian hơn để nghĩ về thương hiệu của chúng ta và công việc mà họ có thể làm? Liệu sự kết hợp trong cách gợi nhớ lại khách hàng và quan sát họ tại nhà hay ở cơ quan có thể mang lại những tiến bộ vượt bậc trong tư duy về thương hiệu? Liệu khái niệm củng cố ư thức người tiêu dùng về sản phẩm và thương hiệu họ dùng có giúp chúng ta thực hiện công việc mà chúng ta và thương hiệu của ḿnh phải làm để giúp cuộc sống của khách hàng dễ dàng hơn, tôi nghĩ vậy. Cách mà những công tŕnh nghiên cứu được tiến hành phản ánh được thái độ tự phát của người tiêu dùng trong khi điều này có thể rất cần thiết với nhiều công tŕnh nghiên cứu th́ vẫn rất hiếm trường hợp thu thập thái độ tự phát của khách hàng, có thể mang lại vị trí về thương hiệu nổi bật. Bởi vậy dù bạn có tin ǵ về công tŕnh thị trường biết rằng không có những công thức mới để có thể t́m hiểu sâu hơn và cho phép có thể thoải mái trong sự quen thuộc do khái niệm vị trí tạo ra. Nhu cầu, ước muốn và khát vọng . Chúng ta là một phần và là khía cạnh không bao gồm các nhiệm vụ mà thương hiệu của chúng ta có thể hoàn thành duy nhất. Chỉ cần nói rằng một cụm từ để nhớ (về 'mục tiêu thương hiệu') là một cụm từ quá đơn giản hoá một vấn đề rất phức tạp. |